Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền và Cộng Sản

Publié le par Pham Anh Dung

 

TỰ-DO  DÂN-CHỦ  NHÂN-QUYỀN   CỘNG-SẢN  

 

 Phần 1

Phạm Anh Dũng

Mọi người Việt, ai nấy đều khao khát Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, đặc biệt là tự do thông tin, tự do tín ngưỡng, tự do được ấm no hạnh phúc ... CSVN với chủ thuyết Vô sản chuyên chính, tay sai cho ngoại bang, đã biến nhân dân Việt Nam từ năm 1946 trở thành nô lệ cho một chính sách thực dân bản địa, dưới quyền điều khiển gián tiếp của Nga Sô và Trung Cộng. CSVN đã dùng bạo lực đàn áp và bần cùng hóa quần chúng ; con dân Việt bắt đầu phải gánh chịu nỗi đau bị nghèo đói triền miên, nỗi đắng cay bị mất hết truyền thống văn hóa đạo đức, nỗi nhục khi đi đâu cũng bị coi là kẻ ăn xin, lường gạt và nói dối : đây là thành qủa mà CSVN đã tạo dựng cho con cháu Tiên Rồng sau hơn 50 năm  thống trị. 
 

1 - BẢN CHẤT CỦA CÔNG SẢN 

Bản chất của đảng cộng sản nói chung và đảng cộng sản Việt Nam nói riêng là dùng mọi phương tiện để đạt được mục đích. Họ ứng dụng mọi thủ thuật chính trị bá đạo để duy trì quyền lực và giữ thế thống trị. CS chủ trương luôn nắm lấy dân, thực hiện chuyên chính độc tài đảng trị, phát động căm thù, đấu tranh giai cấp, lao động tập thể, phá bỏ nếp sống truyền thống văn hóa dân tộc, bần cùng hóa người dân... tay sai Nga Tàu, biến nhân dân thành nô lệ cho thế giới đại đồng Liên Bang Xô Viết. Sau khi chiếm được miền Bắc vào năm 1954 và cũng ngay khi chiếm được Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam vào tháng 4 năm 1975, cộng sản áp dụng chiến thuật trộn người nhằm mục đích chính trị lâu dài, ngăn chặn không cho dân chúng địa phương di chuyển tự do rời khu vực, mặt khác bắt ép hàng loạt người lên các vùng kinh tế mới, miền rừng thiêng nước độc ; đưa hàng loạt dân chúng từ Bắc vào Nam, để đặt mạng lưới Đảng củng cố chính quyền, đè nén mọi tư tưởng vùng dậy của nhân dân. Bằng những phương tiện bá đạo, CSVN đã tìm cách thay đổi tính đấu tranh đòi Dân Chủ của nhân dân bằng tính thuần phục, lệ thục ngụy quyền cộng sản. 

2 - CƠ CẤU TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN. 

2.1 Chính quyền địa phương. 
Theo như luận án đề cương của Lénin về tổ chức chính quyền, đảng CSVN dùng hình thức các chi bộ Sô Viết để tổ chức chính quyền địa phương, bộ phận đầu não là những cán bộ nằm vùng, hay được bổ xung từ Bắc, thành phần này phải là đảng viên.

a)    Hội đồng nhân dân xã, Chi bộ xã bám chặt lấy địa phương, lãnh đạo chính trị một chiều ; theo dõi mọi cử động, tư tưởng và xô đẩy người dân địa phương làm theo ý đảng.

b)    Ủy ban hành chánh nhân dân xã. Đây là một công cụ hành chánh phục vụ cho đảng, tận dụng mọi khả năng của địa phương : nhân lực, tài nguyên, khả năng sản xuất, động lực chính trị v.. v.. theo yêu cầu của đảng.

c)    Công an xã, gồm công an khu vực, khu xóm, tổ an ninh kiểm soát từng nhà, kiểm tra mọi tư tưởng, mọi hành động từng người.

d)    Ban kinh tài. Kiểm soát mọi sự làm ăn, buôn bán của nhân dân, tận thu mọi sắc thuế.

e)    Ban tuyên huấn, bộ máy tuyên truyền chính trị một chiều của đảng, tập trung huấn luyện các bộ phận đoàn thể nhân dân để thi hành đường lối đảng.

f)     Ban quân sự, cưỡng ép thanh niên vào lực lượng dân quân du kích xã, thanh niên xung phong, cung cấp nhân lực theo yêu cầu quốc phòng.  

2.2  Bộ Công An. 

Công an là lực lượng nồng cốt của đảng CSVN, là lực lượng trung thành bảo vệ tuyệt đối chế độ và guồng máy đảng ; do đó chúng ta cần phải nghiên cứu và hiểu biết cơ cấu tổ chức của họ, để thấy rõ chân tướng phản Dân Chủ, phản Nhân Quyền của guồng máy CS. Trong lực lượng này quan trọng nhất là công an khu vực. Mỗi công an khu vực chỉ « quản lý » từ 150 đến 200 gia đình (CS gọi là hộ), luôn luôn có mặt tại khu vực mình phụ trách để theo dõi, giám sát tất cả những người trong khu vực, họ có quyền vào nhà bất cứ người nào, xét hỏi bất cứ ai trong khu vực và phải làm báo cáo về những người, việc, hiện tượng lên cấp trên. 

Sau nghị định 250 CP, của thủ tướng chính phủ CSVN, Bộ Nội Vụ chính thức được xây dựng trên căn bản 4 tổng cục, để kiểm soát và đàn áp toàn dân : 

-      Tổng cục 1 (phản gián, an ninh) là công cụ bảo vệ đảng CSVN, 
-      Tổng cục 2 (cảnh sát nhân dân). 
-      Tổng cục 3 (Xây dựng lực lượng). 
-
      Tổng cục 4 (Hậu cần).  

Tổng cục 1 (phản gián, an ninh) quan trọng nhất, vì là lực lượng nắm trọn quyền sinh sát đối với mọi thành phần xã hội. Những vụ án được đưa ra tòa xét xử hầu hết dùng biện pháp làm giả chứng cớ phạm tội, nhằm mục đích trừng phạt trả thù chứ không phải để phòng ngừa, ngăn chặn. Các cục có ký hiệu là A, đều mang bí số A11 đến A25 :  

1)    Cục A11 (cục chỉ huy) gồm những các bộ chủ chốt của tổng cục.  

2)    Cục A12 (cục tham mưu) là cục chịu trách nhiệm toàn bộ tình hình an ninh chính trị trong toàn lãnh thổ VN. Nó cũng theo dõi tình hình phản gián, tình báo trong cũng như ngoài nước. Qua đó để dự thảo các kế hoạch (chiến lược và chiến thuật) cho toàn lực lượng phản gián nhằm đối phó với tình hình.  

3)    Cục A13 có nhiệm vụ tung ra nước ngoài, hoạt động tình báo và phản gián tại hải ngoại.  

4)    Cục A14 có nhiệm vụ chống gián điệp Trung Quốc và Đài Loan cùng các nước thuộc Trung Quốc như Rumani, Bắc Hàn v. v.  

5)    Cục A15 có nhiệm vụ chống gián điệp tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là Mỹ, Pháp, Anh, Đức v. v., và quản lý theo dõi toàn bộ số nhân viên đã từng làm công tác tình báo, phản gián của Việt Nam Cộng Hòa do Mỹ trực tiếp hậu thuẫn.  

6)    Cục A16 có nhiệm vụ theo dõi thành phần quân cán chính VNCH, các đảng phái, tôn giáo, dân tộc thiểu số và phản động mới (gồm những người đã từng làm việc cho cộng sản bị khai trừ, đuổi việc).  

7)    Cục A17 có nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu kinh tế, các bí mật về kinh tế hoặc chống phá hoại các mục tiêu kinh tế do tình báo người ngoài điều khiển.  

8)    Cục A18 có nhiệm vụ theo dõi người nước ngoài (có quốc tịch nước ngoài hoặc người VN có quốc tịch nước ngoài) đến VN, giải quyết xuất nhập cảnh, đoàn tụ gia đình qua các chương trình ODP, HO, con lai v.. v..  

9)    Cục A19 (cục cửa khẩu) hoạt động tại sân bay quốc tế, hải quan để theo dõi tình hình nhằm phục vụ cho các cục liên quan.  

10) Cục 21 (ngoại tuyến) có nhiệm vụ theo dõi từng cá nhân do các cục khác yêu Cầu, còn gọi là cục giữ vịt chăn bò.  

11) Cục 23 (cục kỹ thuật, nghiệp vụ 2) có nhiệm vụ xem thư, nghe điện thoại, trộm của những cá nhân do các cục khác yêu cầu.  

12) Cục 24 (An ninh điều tra xét hỏi) có nhiệm vụ thẩm vấn xét hỏi từng người liên can trong 1 vụ án nào, hoàn thành hồ sơ về mặt luật pháp để đưa ra tòa xét xử.  

13) Cục A25 (bảo vệ cơ quan, văn hóa và chống phá hoại tư tưởng) có nhiệm vụ theo dõi hệ thống giáo dục, các bệnh viện, các nhà xuất bản, những thi sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ, sách vở cùng những cơ sở, nhà xuất bản v v, qua đó để phát hiện những ai có hành vi hoạt động chống chính phủ.  

Sau Cục là Phòng, có bí số là PA11 đến PA25. Trong 13 phòng này chỉ có các phòng PA15 và PA16 là những phòng trực tiếp hoạt động bảo đảm an ninh chính trị. Các phòng khác chỉ hỗ trợ cho 3 phòng này nếu cần. Sau phòng là Đội.  

Thí dụ cơ cấu PA15 cấp tỉnh, thành phố :  

Phòng PA15, trự thuộc Cục A14, A15, được chia ra làm 3 Đội:  

Đội 1 : chống gián điệp Trung Quốc, gồm có 4 Tổ (mỗi Tổ có ít nhất 4 người).  

-      Tổ 1 : chống gián điệp Trung Quốc, theo dõi những cá nhân đòi hồi hương, đòi phục hồi quốc tịch Trung Quốc.  

-      Tổ 2 : theo dõi giám sát các hoạt động tình báo Đài Loan.  

-      Tổ 3 : theo dỏi quản lý người Hoa và người Việt gốc Hoa.  

-      Tổ 4 : theo dõi quản lý tất cả những cán bộ đảng viên từng được cử sang Trung      Quốc đào tạo.  

Đội 2 : chống gián điệp Mỹ, gồm có 5 Tổ.  

-      Tổ 1 : theo dõi người Việt từng làm cho sứ quán Mỹ, các cơ quan tình báo Mỹ, kể cả phiên dịch mật báo viên, và tất cả Việt kiều từ Mỹ về.  

-      Tổ 2 : quản lý người Việt từng làm cho Pháp, Nhật, Liên Sô, Roumani, Tư.  

-      Tổ 3 : theo dõi các nhân viên từng làm cho tình báo VNCH, như an ninh quân đội, biệt đội sưu tầm, phòng 2 kỹ thuật, phòng 2 B Tổng tham mưu, hiện đang sống tại địa phương.  

-      Tổ 4 : theo dõi toàn bộ các nhân viên từng làm cho tình báo dân sự VNCH, như dân ý vụ, dân vận chiêu hồi, xây dựng nông thôn, phát triển hương thôn, Phượng Hoàng.  

-      Tổ 5 : theo dõi các nhân viên từng làm việc cho cảnh sát đặc biệt, kể cả mạng lưới mật báo viên và cộng tác viên.  

Đội 3 : chống xâm nhập, gồm có 3 Tổ.  

-      Tổ 1 : theo dõi toàn b các nhân viên từng làm việc cho các tổ chức biệt kích, người nhái, thám báo của Mỹ.  

-      Tổ 2 : theo dõi toàn b các nhân viên từng làm việc cho các tổ chức biệt kích, người nhái, thám báo của VNCH.  

-      Tổ 3 : theo dõi toàn bộ những người có thân nhân ở Mỹ và các nước tư bản vì họ thường xuyên nhận thư tín, tiền bạc từ nước ngoài gởi về.  

Phòng PA16, được chia ra làm 6 đội :  

Đi ngụy quân, gồm 2 tổ,  

-      Tổ 1 : quản lý các binh chủng : thủy quân lục chiến, không quân, hải quân, biệt động quân, nhẩy dù, không chừa một ai.  

-      Tổ 2 : quản lý từ hạ sĩ quan trở lên các binh chủng : b binh, pháo binh, công binh v.v.,  

Đi ngụy quyền, gồm 2 tổ :  

-      Tổ 1 : quản lý tất cả các công chức thời VNCH từ phó xã trưởng trở lên.  

-      Tổ 2 : quản lý tất cả các nhân viên cảnh sát  trừ cảnh sát đặc biệt do PA15 kiểm soát.  

Đội phản động mới, quản lý những người CS nhưng đã tỏ bất mản nghỉ việc hoặc bị khai trừ, các thành phần thứ 3, hay có hành vi không thích CS.  

Đi truy xét, chuyên điều tra khám phá những vụ truyền đơn, khẩu hiệu, nói xấu chính qhủ để tìm ra thủ phạm.  

Đội tôn giáo gồm các tổ : Công Giáo, Tin Lành, Phật Giáo, Cao Đài và Phật Giáo Hòa Hảo.  

Đội đảng phái gồm các tổ : Quốc Dân Đảng, Cần Lao Nhân Vị, Đại Việt, Dân Chủ v..v.. 
 

3 - CHIẾN LƯỢC CỦA CS TỪ THẬP NIÊN 1990 

Tham nhũng và quyền thế.  

Đây là chủ trương của đảng CS để nuôi sống đảng viên, mua chuộc lòng trung thành phục vụ đắc lực, thả lỏng để tự tạo sự sung túc và quyền thế. Mở rộng thêm nhiều quận huyện, thôn xã, tạo thêm nhiều cán bộ có chức quyền, phú hào địa phương.  

Nâng cao trình độ.  

Chuẩn bị cho lớp đảng viên trẻ để thay thế lớp già nua, họ được đưa ra nước ngoài du học với lời cam kết thành tài phải về phục vụ đất nước. Thực hiện mạng lưới kiểm soát địa phương, thay đổi dân cư, cải tạo chính trị theo mệnh lệnh, tư tưởng lệ thuộc đảng quyền.   

Ngoại giao.  

 Đối với quốc tế, CSVN vận dụng tối đa ngoại giao, với sự trợ lực của thành phần cộng sản thế giới để có được tư cách chính trị của họ. Trong mọi buổi họp về viện trợ các nước nghèo đói của Liên Hiệp Quốc, WO, Câu lạc bộ Paris v. v., CSVN luôn có mặt để xin tiền, và biến những thành phần lãnh đạo CS thành những Đại Tư Bản đỏ.  

Đối với cộng đồng người Việt hải ngoại, VC chưa hài lòng khi chiếm được VNCH ở miền nam, họ tung những chiến lược tấn công, dăng bẫy những con dân VNCH đi tỵ nạn nước ngoài, họ đưa ra những chiêu bài: hòa hợp hòa giải, về nước hợp tác làm ăn, giao lưu văn hóa v. v., một số người Việt quốc gia vì thiếu kinh nghiệm với CS hoặc hám danh lợi, tiền bạc nên dễ sa vào bẫy để hợp tác với kẻ thù.  

Tiến trình Dân Chủ.  

Nếu trường hợp VN có một sự cải tổ chính trị Dân Chủ vì áp lực của quốc dân và quốc tế, thì thế phòng thủ chính trị của CSVN đã được chuẩn bị cho một cuộc tranh quyền mới. Ở cấp trung ương đã có sẵn lớp cán bộ trẻ có trình độ, ở cấp trung có lớp cán bộ tại chức, giầu có, cấp hạ tầng cơ sở đã có sẵn khung cầm quyền kiểm soát chặt chẽ từng địa phương.  

Publicité
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :
Commenter cet article